Tin tức >
Hội nhập kinh tế quốc tế của Việt Nam - thành tựu và thách thức
Ngày đăng: 17/08/2015 - Số lần xem: 2210

Trước những khiếm khuyết của nền kinh tế tập trung, quan liêu, bao cấp, Đại hội VI (năm 1986) của Đảng đã đề ra đường lối đổi mới và “mở cửa” nền kinh tế. Đây cũng là dấu mốc quan trọng bước đầu đối với chủ trương hội nhập kinh tế quốc tế (HNKTQT) với phương châm đa phương hoá, đa dạng hoá quan hệ quốc tế trong chính sách đối ngoại của Việt Nam.

Với nền tảng ban đầu: “Việt Nam sẵn sàng mở rộng quan hệ hợp tác với tất cả các nước, các công ty nước ngoài trên cơ sở cùng có lợi và không có điều kiện chính trị ràng buộc…” (Hội nghị Ban chấp hành Trung ương 3 - Khoá VI). Đến nay HNKTQT của Việt Nam đã trải qua nhiều tiến trình, bước đi vững chắc qua các kỳ Đại hội, Đại hội XI của Đảng (2011) đã khẳng định: “…tăng cường hợp tác quốc tế, tạo mội trường hoà bình, ổn định và tranh thủ mọi nguồn lực từ bên ngoài để phát triển đất nước. Chủ động, tích cực hội nhập quốc tế sâu rộng, hiệu quả, góp phần phát triển nhanh, bền vững và xây dựng nền kinh tế độc lập, tự chủ. Thực hiện có trách nhiệm các cam kết quốc tế. Phát huy vai trò và nguồn lực của cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài vào phát triển đất nước. Tiết tục cải thiện môi trường đầu tư, tạo điều kiện thuận lợi để thu hút mạnh các nguồn vốn quốc tế, thu hút các nhà đầu tư lớn, có công nghệ cao, công nghệ nguồn, mở rộng thị trường xuất khẩu…). Đường lối đối ngoại của Đại hội Đảng lần thứ XI đã đưa đất nước ta bước vào giai đoạn phát triển mới. Hội nhập quốc tế không còn bó hẹp trong lĩnh vực kinh tế mà mở rộng ra mọi lĩnh vực kể cả chính trị, quốc phòng, an ninh; mở ra mọi hình thức, cấp độ từ song phương đến đa phương, từ khu vực tới toàn cầu.

Tuy nhiên, Đảng ta vẫn xác định: “Hội nhập kinh tế là trọng tâm, hội nhập trong các lĩnh vực khác phải tạo thuận lợi cho hội nhập kinh tế và góp phần tích cực vào phát triển kinh tế, củng cố quốc phòng, đảm bảo an ninh quốc gia, giữ gìn và phát huy bản sắc văn hoá dân tộc, thúc đẩy phát triển văn hoá xã hội…”

Trước đường lối đúng đắn của Đảng và sự quyết tâm, nỗ lực của toàn xã hội, tiến trình HNKTQT của Việt Nam đã đạt được nhiều thành tựu đáng khích lệ. Có thể khái quát như sau:

Thứ nhất, HNKTQT đã góp phần đưa Việt Nam thoát khỏi tình trạng bị bao vây, cấm vận; triển khai có hiệu quả chính sách đa phương hoá, đa dạng hoá; tạo dựng môi trường hoà bình, ổn định tích cực phục vụ công cuộc đổi mới và nâng cao vị thế nước ta trên chính trường quốc tế và thương trường thế giới. Hiện nay chúng ta đã có quan hệ ngoại giao với trên 170 nước và vùng lannhx thổ, quan hệ thương mại với 224 thị trường và vùng lãnh thổ, ký kết 88 Hiệp định thương mại song pương, thiết lập quan hệ với các tổ chức tài chính tiền tệ quốc tế, là thành viên của ASIAN, ASEM, APEC, WTO. Các mối quan hệ này đang được mở rộng và ngày càng đi vào chiều sâu.

Thứ hai, HNKTQT giúp tăng trưởng liên tục cao, mở rộng thị trường xuất nhập khẩu góp phần tạo việc làm, cải thiện đời sống nhân dân và ổn định xã hội. Tổng sản phẩm quốc nội (GDP) bình quân của Việt Nam giai đoạn 2000 - 2009 đạt 7,2% (nguồn IMF), đưa Việt Nam thành nền kinh tế có mức tăng trưởng đứng thứ 2 Châu Á chỉ sau Trung Quốc. Mức sống của người dân cũng được tăng lên đáng kể từ khoảng 200USD/người vào năm 1986 lên 1960USD/người năm 2014.

Thứ ba, HNKTQT góp phần quan trọng vào việc thúc đẩy, tạo dựng môi trường kinh doanh minh bạch, thuận lợi và có lộ trình rõ ràng, làm nền tảng để thu hút đầu tư nước ngoài. Trước khi Luật đầu tư nước ngoài tại Việt Nam được ban hành năm 1987, tình hình thu hút đầu tư nước ngoài của Việt Nam rất hạn chế và không có đóng góp đáng kể nào cho nền kinh tế đất nước. Việc ban hành Luật đầu tư nước ngoài được coi là chìa khoá mở cánh cửa để các nhà đầu tư nước ngoài vào nước ta. Tính đến cuối năm 2012, Việt Nam đã thu hút hơn 14.100 dự án FDI còn hiệu lực với tổng số vốn đăng ký 206,8 tỷ USD, trong đó vốn thực hiện là 97, 63 tuỷ USD. Năm 2013, có tổng số 1.530 dự án được cấp giấy chứng nhận đầu tư mới, với tổng số vốn đăng ký là 22,35 tỷ USD. Chúng ta cũng đã tranh thủ nguồn vốn ODA của 45 nước và tổ chức tài chính quốc tế. Có 350 tổ chức phi chính phủ đăng ký tài trợ và hoạt động trên lãnh thổ Việt Nam.

Thứ tư, HNKTQT đã tích cự đóng góp vào việc nâng cao sức cạnh tranh của nền kinh tế trên cả ba cấp độ: quốc gia, doanh nghiệp và sản phẩm. Đồng thời HNKTQT cũng đã góp phần thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu nền kinh tế một cách tích cực theo hướng tăng dần tỉ trọng công nghiệp và dịch vụ, giảm tỷ trọng nông nghiệp trong cơ cấu tổng thu nhập quốc dân. Cơ cấu vùng kinh tế bắt đầu thay đổi theo hướng hình thành các vùng trọng điểm, các khu công nghiệp tập trung, các khu chế xuất. Chuyển toàn bộ nền kinh tế sang môi trường cạnh tranh, lấy mục đích và hiuệ quả kinh tế xã hội làm cơ sở, thay đổi thói quen của các doanh nghiệp trong việc trông chờ vào sự bảo hộ của nhà nước.

Tuy vị thế của Việt Nam ngày càng được khẳng định, nâng cao trên trường quốc tế, song chúng ta cũng đang đứng trước nguy cơ ngày càng tụt hậu xa hơn về kinh tế với nhiều nước trong khu vực và trên thế giới. Nền kinh tế trong nước còn khá nhiều hạn chế, yếu kém. Có thể khái quát trên 3 khía cạnh sau đây:

Một là, chính sách điều chỉnh nền kinh tế trong nước chưa phù hợp với với điều kiện toàn cầu hoá và HNKTQT, cơ cấu kinh tế chưa đồng bộ và thiếu nhất quán. Trong thời gian qua, chúng ta đang đầu tư một cách dàn trải, chưa tập trung khai thác và phát triển những ngành, lĩnh vực mà Việt Nam có lợi thế, có thể mang lại hiệu quả cao. Chính sách thu hút đầu tư từ trung ương đến địa phương chưa tính đến yếu tố đột phá và bền vững, thiếu quy hoạch, kế hoạch. Thiếu sự gắn kết về chuỗi giá trị sản phẩm toàn cầu.

Hai là, chất lượng tăng trưởng và chuyển dịch cơ cấu kinh tế còn chậm và yếu kém. Nền công nghiệp của Việt Nam trong thời gian qua được phát triển chủ yếu dựa trên sự sơ chế, gia công sản phẩm với giá trị tăng thêm chưa cao, nguyên liệu phụ thuộc nhiều vào nhập khẩu. Nền nông nghiệp vẫn tương đối lạc hậu, chưa có sự kết tinh các giá trị khoa học trong các sản phẩm, ngành công nghiệp chế biến chưa phát triển nên đầu ra chủ yếu là các sản phẩm thô, thị trường tiêu thụ thiếu ổn định. Hoạt động thương mại, dịch vụ còn manh mún. Chất lượng nguồn nhân lực còn rất yếu, thiếu đội ngũ lao động có tay nghề cao, lao động trong lĩnh vực công nghiệp và dịch vụ. Năng lực của hệ thống ngân hàng còn yếu kém, hệ thống doanh nghiệp nhà nước hoạt động kém hiệu quả, doanh nghiệp tư nhân thiếu sức cạnh tranh, hiệu quả vốn đầu tư chậm được cải thiện…

Ba là, năng lực cạnh tranh của nền kinh tế chậm được cải thiện. Hội nhập kinh tế quốc tế của nước ta đã và đang được đẩy nhanh về tốc độ cũng như phạm vi. Tuy nhiên việc chuẩn bị bên trong lại không đi liền với tiến trình này. Chúng ta có thể khái quát trên ba phương diện sau:

Thứ nhất: Những vấn đề mang tính vĩ mô như khuôn khổ pháp lý, năng lực thể chế, chất lượng nguồn nhân lực như là nút thắt của nền kinh tế, cản trở cạnh tranh ở nhiều cấp độ.

Thứ hai: Các doanh nghiệp của Việt Nam còn nhận thức khá mơ hồ, thiếu sự quan tâm, thiếu thông tin về hội nhập kinh tế quốc tế. Tính chủ động trong hội nhập kinh tế quốc tế chưa cao. Chưa nắm bắt được các luật chơi, những quy định trên sân chơi lớn. Những điều này dẫn đến chưa nắm bắt được cơ hội, thế mạnh của mình, chưa chủ động trong hoạch định chiến lược sản xuất kinh doanh khi tham gia vào chuỗi giá trị toàn cầu.

Thứ ba: Chất lượng hàng hoá đang ngày một cải thiện nhưng vẫn còn nhiều hạn chế so với các sản phẩm cùng loại khác trên thị trường thế giới. Giá trị sản phẩm được cấu thành bởi nguyên vật liệu nhiều hơn so với giá trị chất xám cũng là một trở ngại lớn trong tính cạnh tranh giữa các loại sản phẩm.

Trong thời gian tới, kinh tế thế giới có chiều hướng phục hồi khi nền kinh tế Mỹ đang lấy lại đà tăng trưởng sau khủng hoảng. Khu vực Châu Á - Thái Bình Dương sẽ trở thành trung tâm kinh tế năng động nhất của thế giới. Trước những dự báo về tình hình kinh tế thế giới đó, hội nhập kinh tế quốc tế giai đoạn 2015-2020 cần hướng vào các nhiệm vụ trọng tâm sau:

Một là: Tiếp tục tích cực quán triệt và cụ thể hoá, thực hiện có hiệu quả chủ trương Nghị quyết 22 của Bộ Chính trị về hội nhập quốc tế và Chương trình hành động của Chính phủ thực hiện nghị quyết 22 ban hành kèm theo Nghị định số 31 của Chính phủ ngày 13/5/2014.

Hai là: Nâng tầm hội nhập kinh tế quốc tế từ tư duy “tích cực” sang “chủ động đóng góp, khởi xướng và tham gia định hình các cơ chế hợp tác”. Trong đó chú trọng việc tiếp cận, đóng góp đa phương, đa ngành, đưa các quan hệ kinh tế phát triển đi vào chiều sâu. Đẩy mạnh việc đóng góp đối với các mối quan tâm chung trong các cơ chế liên kết, nhất là các khuôn khổ đa phương, các vấn đề phát triển, các thách thức toàn cầu như giảm nghèo, các vấn đề an ninh lương thực, bảo vệ môi trường và chống biến đổi khí hậu, an ninh hằng hải. Gắn các hoạt động hội nhập kinh tế quốc tế với việc hoàn tất và thực hiện nghiêm túc các cam kết quốc tế về phát triển như các mục tiêu phát triển thiên niên kỷ, các mục tiêu phát triển của Liên hợp quốc. Nỗ lực hoàn thiện các cam kết quốc tế lớn có thời hạn trong giai đoạn này, trong đó ưu tiên việc xây dựng Cộng đồng ASIAN, các cam kết WTO. Triển khai nghiêm túc các cam kết đã thoả thuận trong các FTA đã ký kết, chuẩn bị tốt cho các FTA đang đàm phán, thoản thuận, đáng chú ý là TPP.

Ba là: Cần chủ động hơn nữa việc chuẩn bị tốt cho các tranh chấp kinh tế, thương mại quốc tế. Xây dựng, hoàn thiện hệ thống pháp lý, cơ chế, nâng cao năng lực trong nước để cuẩn bị cho việc triển khai các cam kết có mức độ cao về xử lý tranh chấp thương mại. Tích cực triển khai các biện pháp thực hiện phòng vệ thương mại, quy tắc xuất xứ, quyền sở hữu trí tuệ, quy đinh về bản quyền… Chú trọng công tác nghiên cứu khuyến nghị, cảnh báo đối với doanh nghiệp, vận động, đấu tranh với các biện pháp, cách thức mà các đối tác áp dụng đối với ta nhằm bảo vệ lợi ích của các doanh nghiệp, người lao động.

Bốn là: Tích cực nâng cao năng lực tự thân để chủ động trong hội nhập kinh tế quốc tế. Để hội nhập kinh tế quốc tế đạt được mục tiêu, yêu cầu phát triển đất nước mà Đảng, Nhà nước đã đề ra, con người là yếu tố quan trọng hàng đầu. Phải có những chính sách và giải pháp đột phá, nhanh chóng nâng cao năng lực nhận thức, tiếp cận với các vấn đề về hội nhập kinh tế quốc tế mới có thể đưa chúng ta tham gia vào sân chơi lớn, mới có thể có năng lực thực hiện các quy định, cam kết, thoả thuận quốc tế. Hội nhập quốc tế không chỉ là vấn đề của các cơ quan hoạch định chính sách, các cơ quan quản lý nhà nước mà phải là vấn đề thường xuyên, sống còn của các địa phương, doanh nghiệp, phải huy động được sự chủ động, sáng tạo của toàn dân, trong đó khối doanh nghiệp phải là nòng cốt, đi đầu. Chỉ có sự chủ động trong năng lực tự thân bên trong chúng ta mới tận dụng cơ hội và ứng phó kịp thời, hiệu quả với những thách thức trong hội nhập kinh tế quốc tế nói riêng, hội nhập quốc tế nói chung. Đưa đất nước ta ngày càng phát triển, thịnh vượng, có vai trò, ảnh hưởng và vị thế quan trọng trong khu vực cũng như trên toàn thế giới.

  • Nguồn: Dương Huy Toàn - Sở Ngoại vụ tỉnh Đăk Nông
Phản hồi