Tin tức > Thông tin KT-VH-XH
Hoạt động đối ngoại tỉnh Đăk Nông: hội nhập và phát triển
Ngày đăng: 22/12/2014 - Số lần xem: 1129

I. Đường lối đối ngoại Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XI  

Công tác đối ngoại của Đảng, ngoại giao Nhà nước và đối ngoại nhân dân luôn được Đảng ta quan tẩm lãnh đạo và chỉ đạo. Kế thừa đường lối đối ngoại trong quá trình đấu tranh giành độc lập, tự do của dân tộc ta cũng như quá trình xây dựng và bảo vệ Tổ quốc dưới sự lãnh đạo của Đảng, đường lối đối ngoại của hơn 25 năm Đổi mới, đường lối đối ngoại Đại hội XI có những bổ sung, phát triển phù hợp với tình hình mới, thể hiện ở những nội dung cơ bản đó là:

Về mục tiêu đối ngoại, văn kiện Đại hội nêu: “vì lợi ích quốc gia, dân tộc” và vì một nước Việt Nam xã hội chủ nghĩa giàu mạnh.

Hai mục tiêu này thống nhất với nhau. Bảo đảm lợi ích quốc gia dân tộc là cơ sở cơ bản để xây dựng một nước Việt Nam xã hội chủ nghĩa, dân dàu, nước mạnh, xã hội dân chủ, công bằng và văn minh. Xây dựng một nước Việt Nam xã hội chủ nghĩa giàu mạnh là phù hợp với lợi ích quốc gia, dân tộc và là điều kiện cần để thực hiện các lợi ích đó.

Từ khi Đảng ta ra đời, lợi ích quốc gia luôn là mục tiêu phấn đấu của Đảng ta. Nghị quyết số 13 của Bộ Chính trị khóa VI đã khẳng định: “Lợi ích cao nhất của Đảng và nhân dân ta là phải củng cố và giữ vững hòa bình để tập trung sức xây dựng và phát triển kinh tế”. Nghị quyết Trung ương 8 khóa IX nhấn mạnh “bảo vệ lợi ích quốc gia dân tộc” là một trong những mục tiêu then chốt của sự nghiệp xây dựng và bảo vệ tổ quốc.

Bảo đảm lợi ích quốc gia, dân tộc là mục tiêu và là nguyên tắc cao nhất của các hoạt động đối ngoại bao gồm từ ngoại giao Nhà nước, đối ngoại Đảng đến ngoại giao nhân dân.

Về nhiệm vụ của công tác đối ngoại là giữ môi trường hòa bình, thuận lợi cho đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa; bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ; nâng cao vị thế của đất nước; góp phần tích cực vào cuộc đấu tranh vì hòa bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội trên thế giới”.

Độc lập, chủ quyền, thống nhất toàn vẹn lãnh thổ là cơ sở tồn tại của một quốc gia. Bảo vệ độc lập, chủ quyền thống nhất toàn vẹn lãnh thổ luôn là một trong những nhiệm vụ bảo vệ an ninh quốc gia, một trong những nhiệm vụ của công tác đối ngoại. Điều này khẳng định vai trò của công tác đối ngoại trong sự nghiệp bảo vệ  độc lập, chủ quyền thống nhất toàn vẹn lãnh thổ của đất nước.

Giữ môi trường hòa bình là nhằm tạo điều kiện thuận lợi để đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Điều này xác định nhiệm vụ của công tác đối ngoại trong sự nghiệp phát triển kinh tế xã hội của đất nước. Trong những năm gần đây, Bộ Ngoại giao xác định vai trò tiên phong trong việc quảng bá hình ảnh đất nước ra các nước trong khu vực và trên thế giới, xác định vai trò là cầu nối của các doanh nghiệp trong và ngoài nước.

Nhiệm vụ nữa của công tác đối ngoại là nâng cao vị thế của đất nước trên trường thế giới. Ngày nay, Việt Nam có quan hệ ngoại giao với 180 trong 193 quốc gia thành viên Liên Hợp Quốc; có quan hệ thương mại với gần 230 quốc gia và vùng lãnh thổ; là thành viên tích cực của trên 70 tổ chức khu vực và quốc tế. Chúng ta đã có 98 cơ quan đại diện tại các quốc gia và vùng lãnh thổ khắp 5 châu lục trên thế giới. Đặc biệt, lần đầu tiên trong lịch sử ngoại giao dân tộc, chúng ta đã đảm nhiệm thành công cương vị Ủy viên không thường trực Hội đồng Bảo an Liên Hợp Quốc nhiệm kỳ 2008-2009 và Chủ tịch ASEAN năm 2010. Thế và lực của đất nước ngày càng vững mạnh; vai trò và vị thế của Việt Nam trên trường quốc tế được nâng cao hơn bao giờ hết.

Đảng cũng nêu rõ nhiệm vụ “góp phần tích cực vào cuộc đấu tranh vì hòa bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội trên thế giới”. Chúng ta đã tham gia vào vai trò thành viên không thường trực của Hội đồng bảo an Liên hợp quốc, thành viên của Hội đồng nhân quyền Liên hợp quốc…Thông qua các hoạt động này tại Liên Hợp quốc chính là chúng ta đã góp phần tích cực vào cuộc đấu tranh vì hòa bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội trên thế giới.

-Về nguyên tắc: Bảo đảm lợi ích quốc gia, giữ vững độc lập, tự chủ, vì hòa bình, hữu nghị, hợp tác và phát triển”; tôn trọng các nguyên tắc cơ bản của luật pháp quốc tế, Hiến chương Liên hợp quốc”.

Một lần nữa Đảng ta khẳng định mục tiêu và cũng chính là nguyên tắc bất di, bất dịch là bảo đảm lợi ích quốc gia, dân tộc, giữ vững độc lập tự chủ. Đồng thời bảo đảm sự hài hòa chung vì hòa bình, hữu nghị, hợp tác và phát triển.

Riêng về đinh hướng giải quyết các vấn đề tồn tại về biên giới, lãnh thổ, ranh giới trên biển và thềm lục địa với các nước liên quan, Đại hội xác định nguyên tắc giải quyết trên cơ sở các nguyên tắc ứng xử của khu vực, các nguyên tắc đó tựu trung là không dùng vũ lực hoặc đe dọa dùng vũ lực, việc giải quyết các tồn tại dựa trên cơ sở đàm phán, phù hợp với luật pháp quốc tế, Hiến chương Liên hợp quốc và dựa trên cơ sở tuyên bố chung song phương hoặc đa phương.

-Về Phương châm của đường lối đối ngoại, Đảng ta khẳng định: Thực hiện nhất quán đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, hòa bình, hợp tác và phát triển; đa phương hóa, đa dạng hóa quan hệ, chủ động và tích cực hội nhập quốc tế; là bạn, đối tác tin cậy và thành viên có trách nhiệm trong cộng đồng quốc tế.

Điều này khẳng định công tác đối ngoại độc lập của một quốc gia có chủ quyền, có quyền tự quyết công việc đối nội và công tác đối ngoại, không bị chi phối, ảnh hưởng của bất cứ quốc gia nào, thế lực nào, và đặt trong khuôn khổ với tư cách là một thành viên của Liên hợp quốc.

Công tác đối ngoại nhằm tạo môi trường hòa bình, hợp tác và phát triển; đa phương hóa, đa dạng hóa quan hệ, trên tất cả các lĩnh vực từ chính trị, kinh tế, ván hóa xã hội, quốc phòng và an ninh, với tất cả quốc gia và các thực thể chính trị, tổ chức kinh tế kể cả tôn giáo. Không những tham gia mà còn tà thành viên chủ động, tích cực, là bạn, đối tác tin cậy và có trách nhiệm.

Riêng về hội nhập quốc tế, Đại hội XI chuyển từ chủ trương “chủ động và tích cực hội nhập kinh tế quốc tế, đồng thời mở rộng hợp tác quốc tế trong các lĩnh vực khác” sang chủ trương “chủ động và tích cực hội nhập quốc tế.  

II. Nội dung hoạt động ngoại vụ địa phương:

Theo qui định tại Quyết định số 01/2014/QĐ-UBND ngày 07 tháng 1 năm 2014 thì ngoại vụ địa phương có các nội dung hoạt động như sau:

Các hoạt động hợp tác, giao lưu với nước ngoài về chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội.

Tổ chức và quản lý các đoàn đi công tác nước ngoài (đoàn ra) và đón tiếp các đoàn nước ngoài vào tỉnh.

Tiếp nhận các hình thức khen thưởng của nhà nước, tổ chức, cá nhân nước ngoài tặng.

Kiến nghị tặng, xét tặng các hình thức khen thưởng cấp Nhà nước, cấp tỉnh cho những tập thể, cá nhân người nước ngoài đã và đang làm việc tại tỉnh có thành tích xuất sắc được công nhận.

Tổ chức và quản lý hội nghị, hội thảo quốc tế.

Ký kết và thực hiện các thỏa thuận quốc tế.

Hoạt động đối ngoại có liên quan đến công tác quản lý biên giới, lãnh thổ quốc gia.

Quản lý hoạt động của các tổ chức, cá nhân nước ngoài ở địa phương.

Công tác ngoại giao kinh tế, công tác quản lý, vận động viện trọ phi chính phủ nước ngoài.

Công tác văn hóa đối ngoại

Công tác đối với người Việt Nam ở nước ngoài.

Thông tin tuyên truyền đối ngoại và hoạt đọng thông tin, báo chí của phóng viên nước ngoài tại tỉnh.

Theo dõi, tổng hợp về tình hình quốc tế và khu vực có tác động đến tỉnh.

 

III. Triển khai thực hiện các qui đinh của Đảng và Nhà nước về công tác đối ngoại tại địa phương.

Nhìn chung, trong thời gian qua, nhận thức đầy đủ tầm quan trọng của công tác ngoại vụ địa phương, Tỉnh ủy, HĐND và UBND đã quan tâm chỉ đạo làm tốt công tác ngoại vụ địa phương trên tất cả các nội dung về hoạt động đối ngoại.

Về chính trị, đã tiếp đón các tổ chức quốc tế đến thăm, chào xã giao và làm việc hàng trăm lượt khách. Thông qua đó giới thiệu hình ảnh của tỉnh về môi trường hòa bình, ổn định chính trị, thân thiện. Thẳng thắng trả lời các vấn đề nhạy cảm như tôn giáo, nhân quyền. Xóa tan nghi ngờ về việc vi phạm hoạt động tôn giáo, nhân quyền trên địa bàn tỉnh

Về kinh tế, Tỉnh ta luôn chú tọng việc hội nhập kinh tế quốc tế, giá trị kim ngạch xuất khẩu những năm gần đây tăng trên năm trăm triệu đô la hàng năm. Đến nay các doanh nghiệp Đăk Nông đã xuất khẩu hành hóa đến 33 quốc gia và vùng lãnh thổ.

Thu hút ODA tiếp tục tăng trưởng khá, tỉnh đang tiếp tục tích cực chuẩn bị các đề án, dự án vận động thu hút hỗ trọ ODA trên các lĩnh vực giao thông, hạ tầng kỹ thuật, xây dựng nông thôn mới, xóa đói giảm nghèo, an sinh xã hội…

Toàn tỉnh có 8 dự án FDI đang triển khai thực hiện với tổng mức đầu tư đã dăng ký trên 34 triệu USD, đầu tư trong các lĩnh vực nông nghiệp, chế biến nông lâm sản bước đầu đạt hiệu quả.

Công tác xuất khẩu lao động cũng được chú ý, tính đến nay, ta xuất khẩu hơn 2.500 lượt người lao động sang các quốc gia như Hàn quốc, Nhật bản, Malaysia và Đài Loan…

Trong lĩnh vực khoa học công nghệ, giáo dục đào tạo, văn hóa, y tế… có nhiều khởi sắc thông qua việc cử các đoàn cán bộ, giáo viên, thầy thuốc đi dự hội thảo, tham quan học tập ngắn hạn và dài hạn bằng tài trợ, học bổng, bằng tự túc kinh phí… và thông qua các hoạt động tổ chức hội thảo khoa học quốc tế, các sự kiện giao lưu văn hóa, giáo dục, thể dục thể thao…tổ chức tại tỉnh ta.

Trong lĩnh vực quốc phòng và an ninh, công tác đối ngoại cũng được đẩy mạnh thông qua các hoạt động hội thảo, hội nghị quốc tế do các ngành Trung ương tổ chức ở các địa phương trong và ngoài nước. Hoạt động giao ban định kỳ giữa lực lượng bảo về biên giới của tỉnh ta với tỉnh Mondulkiri được duy trì đều đặn, thông qua các hoạt động các bên đã trao đổi và giải quyết những vấn đề phát sinh liên quan đến quốc phòng và an ninh trên tuyến biên giới. Công tác chống xâm nhập, vượt biên trái phép được quản lý tốt.

Đặc biệt, tỉnh ta có hơn 130 km đường biên giới với Campuchia. Ta đã thực hiện tốt công tác đối ngoại toàn diện với tỉnh bạn Mondulkiri, nổi bật trên ba lĩnh vực:

Chính trị: Về chính trị, việc thiết lập mối quan hệ truyền thống, láng giềng hữu nghị luôn được quan tâm. Hàng năm, thông qua các dịp lễ, tết, cán bộ các cấp của hai bên đi thăm viếng lẫn nhau đã trở thành thường lệ. Các bên cũng đã trao đổi cho nhau kinh nghiệm về quản lý Nhà nước, kinh nghiệm vận động nhân dân, kinh nghiệm phát triển kinh tế, xóa đói giảm nghèo…

Hợp tác phát triển kinh tế xã hội luôn được chú trọng. Đặc biệt đầu năm 2010, ta và tỉnh Mondulkiri đã ký thỏa thuận chương trình hợp tác phát triển kinh tế xã hội Đăk Nông-Mondulkiri giai đoạn 2010-2015. Thông qua chương trình này, hai bên đã tăng cường hợp tác trên các lĩnh vực xây dựng cơ sở hạ tầng, xây dựng mạng lưới truyền tải điện cho tỉnh bạn, xây dựng một số công trình về dân sinh, cơ sở giáo dục, đào tạo dạy nghề…

Về lĩnh vực hợp tác đầu tư, thương mại, dụ lịch, nông lâm nghiệp, hai tỉnh đã chính thức giao cho các cơ quan chức năng của mỗi tỉnh xây dựng hệ thống thông tin về tiềm năng phát triển kinh tế, các chính sách ưu đãi đầu tư đề khuyến khích các nhà đầu tư Việt Nam tăng cường đầu tư vào tỉnh Mondulkiri, tăng cường trao đổi hàng hóa, nông lâm sản.

Về văn hóa xã hội, giáo dục y tế được đẩy mạnh, hàng năm, tổ chức các buổi giao lưu văn hóa, thể dục thể thao… Đặc biệt việc tổ chức thăm khám chữa bệnh và cấp thuốc miễn phí hoạt động thường xuyên hàng năm ở cả tuyến tỉnh và các huyện biên giới.

Về lĩnh vực bảo vệ biên giới, an ninh quốc phòng:

Hai tỉnh đã chung sức xây dựng đường biên giới hòa bình, hữu nghị, hợp tác, phát triển.

Việc giải quyết mọi vấn đề phát sinh trên biên giới thông qua sự thống nhất thiện chí của hai bên, không để cho các thế lực bên ngoài lợi dụng chia rẽ hai dân tộc, quốc gia. Phối hợp chống các lực lượng phản động, không để cho các tổ chức phản động đứng chân ở mỗi tỉnh để chống phá với hai tỉnh và mỗi tỉnh; không cho hình thành các trại tỵ nạn trên địa bàn hai tỉnh.

Duy trì thực hiện tốt Hiệp định về quy chế biên giới và các thỏa thuận song phương đã ký kết, tạo điều kiện thuận lợi cho việc cư trú, thăm thân giữa công dân hai tỉnh.

Thực hiện thỏa thuận này, hàng năm, luân phiên hai tỉnh đã tổ chức sơ kết đánh giá tình hình, đề ra kế hoạch tiếp tục thực hiện ngày càng đi vào thực chất và có hiệu quả.

Phân giới cắm mốc.

Về biên giới đất liền Việt Nam Campuchia có chiều dài khoảng 1.137 km. Trải qua gần trăm năm tồn tại với sự tác động của thiên nhiên, của chiến tranh và tình hình quản lý thực tiễn, do ảnh hưởng của tập tục du canh du cư của đồng bào các dân tộc thiểu số, đường biên giới giữa hai quốc gia có những thay đổi nhất định đòi hỏi phải được xác định rõ.

Từ năm 1982, hai nước đã tiến hành đàm phán và đi đến ký kết hiệp ước Hoạch định đường biên giới quốc gia Việt Nam – Campuchia vào ngày 27 tháng 12 năm 1985.

Đường biên giới trên đất liền giữa Việt Nam và Campuchia dài 1.137 km được hình thành qua quá trình lịch sử, tiếp giáp với 10 tỉnh của Việt Nam và 9 tỉnh của Campuchia. Sau khi hoà bình được lập lại hai nước đã đạt được những kết quả quan trọng trong việc giải quyết vấn đề biên giới, lãnh thổ, đáp ứng nguyện vọng của nhân dân, phục vụ thiết thực cho sự nghiệp phát triển chung của hai nước, phù hợp với thực tiễn và luật pháp quốc tế, tạo cơ sở vững chắc để xây dựng đường biên giới Việt Nam – Campuchia thành một đường biên giới hoà bình, hữu nghị, ổn định, phục vụ cho sự nghiệp phát triển chung của hai nước, đóng góp cho hoà bình, thịnh vượng ở khu vực.

 Trên cơ sở của mối quan hệ hữu nghị đặc biệt, sự hợp tác chặt chẽ, giúp đỡ lẫn nhau của Đảng, Chính phủ và nhân dân hai nước, các vấn đề tồn tại về biên giới lãnh thổ giữa Việt Nam – Campuchia đã sớm được giải quyết. Với cố gắng không mệt mỏi của hai phía, thời gian qua hai bên đã đạt nhiều thành tựu quan trọng trong công tác biên giới lãnh thổ cụ thể:

Hai bên đã tiến hành trao đổi, đàm phán và tiến hành ký kết nhiều văn kiện quan trọng trong việc giải quyết các vấn đề biên giới lãnh thổ đó là Hiệp định về quy chế biên giới quốc gia năm 1983, Hiệp ước Hoạch định biên giới quốc gia năm 1985 và Hiệp ước bổ sung hiệp ước năm 1985 năm 2005 là cơ sở pháp lý quốc tế để Việt Nam và Campuchia cùng nhau quản lý, duy trì ổn định biên giới giữa hai nước, thực hiện phương châm mà lãnh đạo cấp cao hai nước đã thoả thuận xây dựng đường biên giới VN – CPC thành đường biên giới hoà bình, ổn định, hợp tác cùng phát triển.

Đối với quốc tế và khu vực, bằng việc ký kết các văn kiện trên, hai bên đã thể hiện thiện chí của mình để giải quyết các vấn đề biên giới, lãnh thổ thông qua thương lượng hoà bình, trên cơ sở tôn trọng chủ quyền và lợi ích hợp tác phát triển.

Cùng với đó, hai bên đã thoả thuận nối lại tiến trình phân giới cắm mốc đã bị gián đoạn kể từ năm 1989, quyết tâm hoàn thành công tác phân giới cắm mốc trên thực địa, quan trọng hơn hết đến nay hai bên đã đạt được một số kết quả cụ thể như sau: tính đến hết 30/6/2014, trên toàn tuyến biên giới đã xác định trên thực địa được 248/314 vị trí, tương ứng với 300/371 cột mốc; đã xây dựng được 233/314 vị trí, tương ứng 282/371 cột mốc, phân giới 866/1.137km. Riêng tỉnh Đăk Nông đã xác định và xây dựng được trên thực địa 8 vị trị/16 cột mốc. Tất cả thành quả trên đã bàn giao cho lực lượng bảo vệ biên giới của hai bên quản lý và bảo vệ.

Riêng đối với công tác quản lý biên giới trên địa bàn tỉnh Đăk Nông: trong thời gian qua, hai bên đã đảm bảo ổn định tình hình biên giới Việt Nam – Campuchia, an ninh trật tự, an toàn xã hội khu vực biên giới được giữ vững; hợp tác giữa các Bộ, Ngành trung ương, các tỉnh biên giới và lực lượng quản lý biên giới hai bên ngày càng được thắt chặt, tạo điều kiện thuận lợi cho việc phát triển kinh tế xã hội.

 

IV. Hoạt động đối ngoại: hội nhập và phát triển.

Nhìn chung, công tác đối ngoại nói chung và hội nhập nói riêng của tỉnh ta trong thời gian qua đã đạt được những kết quả khả quan, đáp ứng được yêu cầu, nhiệm vụ. Tuy nhiên vẫn còn những khó khăn và tồn tại đó là: Hội nhập của tỉnh chưa đi vào chiều sâu, chưa có tính hệ thống liên kết ngành và lĩnh vực, còn thụ động. Bên cạnh đó, nền kinh tế của tỉnh ta cũng còn nhỏ lẻ. Tại Chương trình số 27-CTr/TU ngày 5 tháng 9 năm 2013, sau khi đánh giá tình hình hội nhập quốc tế, Tỉnh ủy đã nêu ra một số bài học kinh nghiệm như sau:

Tăng cường sự lãnh đạo của Đảng, quản lý điều hành của chính quyền, phát huy vai trò của Mặt trân Tổ quốc và các đoàn thể chính trị xã hội trong hội nhập quốc tế là nhân tố thành công trong hội nhập quốc tế.

Nâng cao vai trò của cơ quan tham mưu, chủ động tham mưu, đề xuất cho lãnh đạo Đảng, chính quyền, Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể, trong công tác điều phối chung, tổng hợp đon đốc và theo dõi việc thực hiện các nội dung hợp tác và hội nhập.

Từng bước kiện toàn cơ cấu tổ chức của cơ quan tham mưu giúp việc ở tỉnh và huyện, đáp ứng được yêu cầu nhiệm vụ tham mưu cho lãnh đạo Đảng và chính quyền chủ động, tích cực hội nhập quốc tế.

Triển khai thực hiện chương trình số 27-CtrTU của Tỉnh ủy, Ủy ban nhân dân tỉnh Đăk Nông đã ban hành kế hoạch thực hiện với những nội dung chính như sau:

Về công tác phổ biến, tuyên truyền quán triệt về quan điểm đường lối của Đảng, chính sách pháp luật về công tác đối ngoại trên địa bàn tỉnh

1. Các sở, ban ngành và các địa phương tiếp tục tổ chức quán triệt sâu rộng, thống nhất nhận thức trong cơ quan, đơn vị, địa phương về đường lối đối ngoại, về các cơ hội cũng như thách thức đặt ra trong tiến trình hội nhập trong giai đoạn mới.

2. Sở Thông tin truyền thông chủ động, tranh thủ ý kiến của Ban Tuyên giáo Tỉnh ủy, phối hợp với Sở Ngoại vụ và các cơ quan thông tin đại chúng trên địa bàn tỉnh xây dựng kế hoạch phổ biến, tuyên truyền quán triệt về quan điểm, đường lối của Đảng, chính sách pháp luật về công tác đối ngoại trên địa bàn tỉnh trong tình hình hiện nay, quán triệt đầy đủ về nhiệm vụ và giải pháp hội nhập quốc tế đã được nêu trong Chương trình số 27-CTr/TU ngày 05 tháng 9 năm 2013 của Ban Thường vụ Tỉnh ủy về thực hiện Nghị quyết 22-NQ/TW của Bộ Chính trị về hội nhập quốc tế và Chỉ thị số Thực hiện Chỉ thị số 01/CT-TTg ngày 09/01/2012 của Thủ tướng Chính phủ về một số biện pháp triển khai chủ trương chủ động và tích cực hội nhập quốc tế.

Đối với một số ngành, địa phương cần triển khai các công tác cụ thể như sau:

1.  Sở Nội vụ chủ trì phối hợp với Sở Ngoại vụ  và các cơ quan chức năng tham mưu cho UBND tỉnh thành lập Ban chỉ đạo về công tác đối ngoại và hội nhập quốc tế, thành lập các tiểu ban hội nhập quốc tế trong các lĩnh vực: Chính trị và quốc phòng, an ninh; kinh tế; giáo dục đào tạo và khoa học công nghệ, văn hóa xã hội; công tác tuyên truyền, thông tin đối ngoại.

2. Sở Kế hoạch và Đầu tư chủ trì, phối hợp với Sở Công thương, Đảng ủy Khối Doanh nghiệp, Liên minh Hợp tác xã, Hội Doanh nghiệp tỉnh và các sở, ngành liên quan tham mưu cho UBND tỉnh về chính sách hội nhập kinh tế quốc tế và mở rộng hợp tác trên địa bàn tỉnh nhằm thu hút vốn và kêu gọi đầu tư của các tổ chức, các nước trên thế giới có đặc điểm kinh tế tương đồng phù hợp với tỉnh Đăk Nông, tổng hợp tình hình và đề xuất ý kiến về hợp tác khu vực tam giác phát triển Campuchia - Lào - Việt Nam (CLV); Tham mưu cho UBND tỉnh triển khai “Xây dựng quan hệ đối tác toàn cầu vì sự phát triển” theo mục tiêu phát triển Thiên niên kỷ.

Xây dựng dự thảo và trình UBND tỉnh về chiến lược chính sách kêu gọi và thu hút vốn đầu tư trên nhiều lĩnh vực và đề xuất danh mục các dự án kêu gọi đầu tư từ nay đến năm 2015 và giai đoạn 2015-2020.

Đề xuất các giải pháp nhằm nâng cấp Cửa khẩu quốc tế “Bu Prăng – Đăk Đam”, tạo thuận lợi cho việc giao lưu của các nước ASEAN với các vùng miền trong khu vực. Tăng khối lượng hàng hóa xuất khẩu, mở rộng thị trường hành hóa, dịch vụ sang tỉnh Mondulkiri và các tỉnh khác của vương quốc Campuchia. Đẩy mạnh hoạt động khai thác các dịch vụ vận tải, quá cảnh hàng hóa…giảm thiểu các chi phí về giao thông, tạo thuận lợi cho việc lưu chuyển hàng hóa qua các cửa khẩu.

Phối hợp với Sở Nội vụ đẩy mạnh cải cách thủ tục hành chính để cải thiện môi trường đầu tư, kinh doanh; Công tác quy hoạch, thu hút, xúc tiến đầu tư nước ngoài; Nâng cao năng lực cạnh tranh của các sản phẩm, doanh nghiệp trên địa bàn, hỗ trợ, tạo điều kiện để xây dựng và quảng bá một số thương hiệu sản phẩm là thế mạnh đặc thù của tỉnh trong xuất khẩu như cà phê, tiêu…; Hướng dẫn các nhà đầu tư Việt Nam sang đầu tư trồng cây cao su, đầu tư các công trình thủy điện…

3. Sở Công thương phối hợp với các sở, ngành liên quan thực hiện hội nhập quốc tế và mở rộng hợp tác trong lĩnh vực công thương, tham mưu cho UBND tỉnh các chương trình nâng cao năng lực cạnh tranh trong lĩnh vực dịch vụ thương mại, xây dựng chiến lược tổng thể về hội nhập quốc tế của ngành từ nay đến 2015, tầm nhìn đến 2020.

4. Sở Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn tăng cường công tác phát triển các sản phẩm nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao phục vụ tiến trình hội nhập, tham mưu cho UBND tỉnh xây dựng triển khai công tác hội nhập quốc tế về nông nghiệp, lâm nghiệp, thủy sản.

5. Bộ chỉ huy Bộ đội Biên phòng tỉnh tăng cường bảo vệ vững chắc chủ quyền an ninh biên giới, giữ vững an ninh chính trị, tiếp tục mở rộng, tăng cường hợp tác quốc tế trong lĩnh vực quốc phòng với tỉnh bạn phù hợp với quá trình hội nhập quốc tế.

Thực hiện tốt công tác đối ngoại biên phòng, chủ động tham mưu cho cấp ủy, chính quyền và nhân dân địa phương thực hiện tốt công tác đối ngoại nhân dân trong thời kỳ hội nhập quốc tế.

Tăng cường củng cố mối quan hệ hữu nghị giữa các cấp chính quyền, địa phương dọc tuyến biên giới Việt Nam – Campuchia; Xây dựng cơ chế phối hợp giữa cấp tỉnh, huyện, xã, thôn, buôn, đồn biên phòng với tỉnh bạn nhằm duy trì và phát triển mối quan hệ hợp tác phù hợp, hiệu quả, hạn chế các vụ việc phức tạp dọc biên giới. Thúc đẩy hoàn thành công tác phân giới cắm mốc trên tuyến biên giới giữa hai tỉnh Đăk Nông và Mondulkiri.

6. Công an tỉnh phối hợp với các sở, ban ngành liên quan tăng cường bảo đảm an ninh của tỉnh, phòng chống các loại tội phạm và các hành vi vi phạm pháp luật, xây dựng nhiệm vụ cụ thể trong công tác đối ngoại an ninh và hội nhập quốc tế của ngành.

Nắm vững âm mưu, thủ đoạn “diễn biến hòa bình”, bạo loạn lật đổ của các thế lực thù địch lợi dụng tôn giáo, sắc tộc chống phá cách mạng, góp phần cùng toàn Đảng, toàn dân và lực lượng vũ trang làm thất bại mọi thủ đoạn “diễn biến hòa bình”, bạo loạn lật đổ.

Triển khai thực hiện có hiệu quả thỏa thuận về phòng chống tội phạm giữa công an hai tỉnh Đăk Nông và Mondulkiri.

7. Sở Khoa học và Công nghệ tiếp tục tăng cường thực hiện có hiệu quả chiến lược phát triển khoa học và công nghệ tỉnh Đăk Nông đến năm 2020. Tiếp tục đổi mới cơ chế quản lý để thúc đẩy hoạt động KH&CN phát triển. Chủ động và tích cực nghiên cứu triển khai ứng dụng tiến bộ kỹ thuật về tiêu chuẩn, chất lượng và đo lường phù hợp với thông số kỹ thuật quốc tế.

Chủ động phối hợp với Sở Nội vụ đề xuất Tỉnh ủy  và UBND tỉnh về quy hoạch phát triển nguồn nhân lực, cơ chế, chính sách sử dụng và trọng dụng cán bộ khoa học, công nghệ phù hợp và đáp ứng yêu cầu phát triển của địa phương thời kỳ hội nhập.

Kiện toàn nâng cao năng lực bộ máy quản lý nhà nước về khoa học, công nghệ theo hướng tinh gọn, tập trung vào việc xây dựng chiến lược, quy hoạch, kế hoạch, cơ chế, chính sách, nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước về khoa học và công nghệ.

8. Sở Giáo dục và Đào tạo tổ chức nhiều lớp tập huấn, hội thảo chuyên đề…để nâng cao chất lượng giáo dục, đội ngũ cán bộ giáo viên đáp ứng nhu cầu hội nhập quốc tế của tỉnh. Đặc biệt chú trọng công tác nâng cao chuyên môn ngoại ngữ cho giáo viên, chất lượng đào tạo ngoại ngữ trong các trường học và cơ sở đào tạo ngoại ngữ thuộc Sở quản lý, tranh thủ các nguồn lực cử cán bộ, giáo viên tham  gia các chương trình đào tạo ở nước ngoài, chủ động và tích cực tham gia các cuộc hội thảo quốc tế về khoa học giáo dục và quản lý giáo dục.

9. Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch chủ trì phối hợp với các cơ quan chức năng về hội nhập quốc tế trên các lĩnh vực văn hóa, thể dục, thể thao và du lịch; Tăng cường nâng cao hiệu quả công tác quản lý văn hóa, nghệ thuật để kịp thời xử lý các ấn phẩm không lành mạnh, hoạt động phi văn hóa ảnh hưởng đến đời sống văn hóa truyền thống của nhân dân. Chủ động tích cực giới thiệu những giá trị văn hóa truyền thống tốt đẹp của các dân tộc thiểu số trong cộng đồng các dân tộc Việt Nam trên địa bàn tỉnh thông các hoạt động triển lãm nghệ thuật, sáng tác, biểu diễn văn hóa văn nghệ, thi đấu thể dục thể thao.

Mở rộng giao lưu văn hóa, tiếp thu các giá trị văn hóa tiến bộ của các nước để bổ sung và làm giàu nền văn hóa dân tộc. Chủ động phối hợp với các Bộ, ngành có liên quan đăng cai tổ chức các chương trình giao lưu văn hóa, nghệ thuật, thể dục thể thao quốc tế tại tỉnh; Tham gia các hoạt động giao lưu ở các nước; Đồng thời chủ động mở rộng hợp tác với các thành phố, địa phương trên thế giới. Có kế hoạch định kỳ giao lưu văn hóa, vắn nghệ, thể dục thể thao với tỉnh bạn Mondulkiri, chỉ đạo các phòng văn hóa huyện chủ động tham mưu cho Huyện ủy và UBND các huyện tổ chức giao lưu văn hóa, nghệ thuật, thể dục thể thao ở các huyện biên giới.

Tiến hành khảo sát và tham mưu việc xây dựng các tuyến du lịch có nhiều tiềm năng như: Tuyến du lịch chuyên đề “con đường xanh Tây Nguyên”, “Đường Hồ Chí Minh huyền thoại và trở về chiến trường xưa”, “Khu du lịch sinh thái văn hóa cụm thác Đrây Sáp - Gia Long - Trinh Nữ”; Gắn du lịch Đăk Nông với du lịch các tỉnh Tây Nguyên, đồng bằng Nam bộ và Duyên hải Miền Trung. Liên kết với các địa phương lân cận để hình thành tour du lịch thuộc tam giác phát triển Việt Nam - Lào - Campuchia.

10. Sở Thông tin và Truyền thông chủ trì, phối hợp với các Sở, ban, ngành tiếp tục tham gia công tác hội nhập quốc tế, nghiên cứu, đề xuất biện pháp cần thiết để đảm bảo lợi ích trong lĩnh vực thông tin, truyền thông. Tiếp tục triển khai có hiệu quả “Quy hoạch phát triển công nghệ thông tin tỉnh Đăk Nông giai đoạn 2011-2015, định hướng đến năm 2025”. Đặc biệt chú trọng nâng cao công tác thông tin đối ngoại của tỉnh.

Chú trọng công tác quảng bá hình ảnh đất nước, con người, văn hóa, danh lam thắng cảnh trong tỉnh với những “Thông điệp về vùng đất, con người và dân tộc bản địa tỉnh Đăk Nông” có bề dày văn hóa, lịch sử hào hùng, về những nét văn hóa độc đáo của địa phương. Tham mưu Tỉnh ủy và UBND tỉnh lãnh đạo và chỉ đạo các cơ quan thông tin đại chúng nâng cao chất lượng công tác thông tin đối ngoại đồng thời đa dạng hóa các hoạt động thông tin đối ngoại.

Phối hợp với cơ quan an ninh quản lý tốt các hoạt động thông tin, tuyên truyền, ngăn chặn các ấn phẩm độc hại, đề xuất các giải pháp quản lý thông tin trên internet hoạt động đúng pháp luật, kịp thời xử lý các trường hợp vi phạm.

11. Sở Lao động Thương binh và Xã hội chủ trì phối hợp với Hội Liên hiệp Phụ nữ tỉnh tiếp tục tăng cường công tác thực hiện các chính sách an sinh xã hội trong giai đoạn hội nhập quốc tế. Tham mưu cho UBND tỉnh triển khai thực hiện các chương trình mục tiêu Thiên niên kỷ của Liên Hiệp Quốc tại tỉnh như: Xóa đói giảm nghèo; tăng cường bình đẳng giới và nâng cao vị thế cho phụ nữ, chăm sóc trẻ em. Đề xuất UBND tỉnh chương trình phối hợp với Mặt trận Tổ quốc tỉnh quan tâm chăm sóc gia đình liệt sỹ, thương binh, các đối tượng chính sách, kịp thời phối hợp với các cơ quan chức năng tuyên truyền về đương lối chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước về công tác lao động, thương binh và xã hội, đấu tranh chống các luận điệu xuyên tạc trong thực hiện chính sách lao động, thương binh xã hội của các thế lực thù địch.

Tăng cường công tác đào tạo và dạy nghề cho người lao động, chủ động phối hợp với các tổ chức trong nước và quốc tế giới thiệu và tổ chức xuất khẩu lao động trên địa bàn tỉnh.

12. Sở Y tế tranh thủ các nguồn lực để đào tạo cán bộ ở nước ngoài, đào tạo cán bộ tiếp thu kỹ thuật y học hiện đại nhằm khai thác có hiệu quả trang thiết bị y tế hiện có và thường xuyên cập nhật tiến bộ khoa học kỹ thuật, đổi mới trang thiết bị y tế, phục vụ khám và điều trị sức khỏe cho nhân dân. Hàng năm đề xuất kế hoạch khám và điều trị bệnh cho cán bộ và nhân dân tỉnh bạn mondulkiri.

13. Sở Tài nguyên và Môi trường tiếp tục triển khai Chiến lược quốc gia về ứng phó với biến đổi khí hậu, nỗ lực bảo vệ môi trường, sử dụng hiệu quả, bền vững tài nguyên thiên nhiên, bảo đảm an ninh nguồn nước. Phối hợp với các ngành quản lý và phát triển tài nguyên rừng tham mưu cho UBND tỉnh nội dung hội nhập quốc tế liên quan đến lĩnh vực tài nguyên môi trường và  triển khai thực hiện mục tiêu phát triển Thiên niên kỷ về “đảm bảo bền vững môi trường”. Chủ động nghiên cứu ứng dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật trong quản lý tài nguyên môi trường. Tranh thủ các nguồn lực để cử cán bộ đi nước ngoài học tập, tham quan, học hỏi kinh nghiệm quản lý tài nguyên môi trường.

14. Sở Tư pháp chủ trì, phối hợp với các Sở, ban, ngành liên quan rà soát, kiến nghị, điều chỉnh, sửa đổi các quy định không phù hợp trong các văn bản quy phạm pháp luật và kiến nghị ban hành các quy định mới đáp ứng yêu cầu hội nhập quốc tế.

15. Các sở, ban, ngành và uỷ ban nhân dân các huyện, Thị xã Gia Nghĩa trên cơ sở quán triệt Nghị quyết số 22-NQ/TW, Chỉ thị số 01/CT-TTg, Chương trình số 27-CTr/TU của Tỉnh ủy và kế hoạch này tiếp tục triển khai nhiệm vụ cụ thể về công tác hội nhập quốc tế theo chức năng nhiệm vụ của đơn vị mình.

 Tóm lại: Mặc dù vẫn còn nhiều khó khăn và thách thức, tuy nhiên với sựu nổ lực của toàn Đảng, toàn dân và toàn quân tỉnh nhà, tin rằng Đăk Nông sẽ tranh thủ các điều kiện thuận lợi của hội nhập quốc tế, phát triển và phát triển một cách bền vững về mọi mặt đời sống xã hội, góp phần giữ vững biên cương Tổ quốc, tạo môi trường hòa bình, ổn định để phát triển kinh tế xã hội trong thời gian tới. 

  • Nguồn: Nguyễn Đình Nghĩa - Sở Ngoại vụ tỉnh Đăk Nông
MyPassion
Chưa có bình luận nào

Hãy là người đầu tiên bình luận tin này

Phản hồi